HOME | Tiểu cảnh Hồ Văn|CỔNG LÀNG BẮC BỘ – NƠI IN DẤU HỒN VIỆT XƯA

Tin tức

Lưu niệm

Hoạt động dịch vụ

Phía sau cổng làng là một nếp làng, một nếp sống cộng đồng đã được hình thành từ rất lâu (ảnh st)

CỔNG LÀNG BẮC BỘ – NƠI IN DẤU HỒN VIỆT XƯA

10:33 - Ngày 16/04/2019

Giữa chốn phố phường tấp nập người xe, tốc độ đô thị hóa như vũ bão, những cổng làng vài trăm năm tuổi đã không còn có thể chạy đua với thời gian được. Nhưng ở một số làng quê, những cổng làng rêu phong cổ kính vẫn đứng trầm mặc bao năm, là hình ảnh đầu tiên chào đón bao người con trở về.

Lối kiến trúc cổ độc đáo

Trong khi cổng trước mang nhiệm vụ nghênh tiếp, cổng sau hàm ý tiễn đưa. Cổng tiền: tức cổng trước thường trổ về hướng Đông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc. Cổng tiền là Cổng chính, cổng trước của làng, thường dành cho người sống; Cổng tiền là nơi đón người đi làm đồng về, đón khách lạ, đón quan kinh lý, đón người đăng khoa đỗ đạt, đón kẻ tha hương cầu thực trở về bản quán và quan trọng nhất là đón dâu mới nhập làng. Nghĩa là đón nhận những gì tốt đẹp nhất – Đón sự sống, đón phúc lộc vào ngôi làng.

Cổng làng là sản phẩm kiến trúc cổ của người Việt (ảnh st)
Cổng làng là sản phẩm kiến trúc cổ của người Việt (ảnh st)

Cổng hậu: tức cổng sau thường trổ ra hướng Tây, hướng mặt trời lặn. Cổng hậu là cổng phụ, cổng sau của làng, thường dành cho người chết; Cổng hậu dành để tiễn người chết ra nghĩa trang, tống khứ kẻ xấu ra khỏi làng. Kẻ nào bị làng phạt vạ đuổi khỏi làng bao giờ cũng phải đi ra bằng cổng hậu. Nghĩa là cái cổng hậu có chức năng tống tiễn những gì không xứng đáng được tồn tại trong làng – Ma quỷ, trộm cắp, bất lương… ra khỏi cõi sống, xua đuổi chúng vào cõi chết.

Có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người (ảnh st)
Có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực và đời sống tâm linh của con người (ảnh st)

Cổng làng có thể mang dạng cổng tam quan hay còn gọi là tam môn, tức ba lối đi: một lối chính và hai lối ngách. Lối ngách dùng hàng ngày; chỉ khi có nghi lễ mới mở lối giữa. Thông thường thì cổng chỉ làm một lối xây vòm (cuốn tò vò) hoặc vuông góc. Cổng trước xây to lớn hơn, trên trán cửa thì ghi tên làng hoặc một câu liên quan đến địa phương đó, làm như bức hoành phi. Trường hợp làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, thuộc Hà Nội nơi có đền thờ đại công thần Nguyễn Trãi thì cổng làng viết bốn chữ “Như kiến đại bảo” – nghĩa là “như thấy điều quý báu lớn” nói lên niềm tự hào của làng. Dù cho loại xây chỉ có một lối đi, cổng làng có thể xây thêm hai “cổng mã” hai bên, tức hình dáng như một lối đi nhưng xây bít đặc. Cũng như những công trình xây cất truyền thống khác, phép chọn phương hướng để xây cổng làng bị chi phối bởi học thuật phong thủy. Lý tưởng nhất thì cổng trước nhìn ra hướng đông, cổng sau ra hướng tây.

Vật liệu xây dựng chính là gạch hoặc đá đắp thêm vữa (ảnh st)
Vật liệu xây dựng chính là gạch hoặc đá đắp thêm vữa (ảnh st)

Vật liệu xây là gạch hoặc đá đắp thêm vữa, trên làm mái. Cầu kỳ thì làm hai tầng mái (chồng diêm) hoặc xây gác giống vọng lâu với mái cong. Nóc mái thì đắp rồng, phượng, cá hóa long, quả bầu v.v. Làng nghèo thì cổng chỉ bằng gỗ tre. Bố cục thường gắn bó với cổng làng là cây đa nên biểu tượng chung của làng quê Việt Nam miền Bắc là: cây đa, giếng nước, sân đình vì đó là ba nơi tụ họp của mọi tầng lớp xã hội nông thôn.

Biểu tượng của quê hương

Hình tượng cổng làng là hình tượng của quê hương, xứ sở. Đây là điểm để phân biệt các ngôi làng. Là điểm ngăn cách nơi ở của cư dân với đồng ruộng, với bên ngoài. Mỗi cổng làng đều có một nét văn hóa riêng tuỳ theo đặc điểm của làng đó, biểu trưng cho sự uy nghi, nề nếp của mỗi làng quê. Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng. Kiến trúc cổng làng xưa không cầu kỳ, phô trương mà chỉ nhằm khẳng định chỗ đứng của mình trong khoảng không gian của làng quê.

Mỗi cổng làng đều có một nét văn hóa riêng tuỳ theo đặc điểm của làng đó (ảnh st)
Mỗi cổng làng đều có một nét văn hóa riêng tuỳ theo đặc điểm của làng đó (ảnh st)

Theo năm tháng, nhiều cổng làng được xem là di sản văn hóa, nghệ thuật, là đỉnh cao trong kiến trúc của ngôi làng Việt, phản ánh lý tưởng và chiều sâu của văn hóa cộng đồng, từ mỗi chiếc cổng làng, ta hình dung ra bộ mặt của làng xã, phía sau đó là một xã hội thu nhỏ. Cổng làng không chỉ tồn tại gắn bó với nhiều thế hệ dân làng mà còn mang ý nghĩa trong sự tiếp nối truyền thống tốt đẹp của con người sinh sống nơi đây.

Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng (ảnh st)
Cổng làng ra đời từ rất sớm, gắn liền với sự hình thành và phát triển của làng (ảnh st)

Cổng làng là bản sắc của văn hóa Việt Nam. Những nét kiến trúc, những đại tự, câu đối trên cổng làng đều có ý nghĩa dạy bảo con cháu mỗi lần đi về đọc để hiểu, để làm người. Những chữ nghĩa trên cổng làng còn để cho những người khách của làng hiểu phong tục, tập quán của làng. Các cụ có câu “nhập hương vấn tục”, đến một làng, nhìn chữ ở cổng làng để biết phong tục của làng, lễ hội, hương ước, tình cảm trong họ hàng của làng ra sao.

Gắn liền với sự hình thành và phát triển của mỗi ngôi làng

Từ xưa, sau khi làng được lập nên sẽ là sự ra đời của cổng làng, dù không chính thức nhưng đây được xem như một lời tuyên bố về sự hình thành và phát triển của làng. Vị trí dựng lên chiếc cổng cũng được xem như một cột mốc đánh dấu vùng lãnh thổ, không gian địa lý giữa bên trong và bên ngoài làng. Vậy nên, cổng thường nằm ở đầu làng trên trục đường chính, dựa theo phong thuỷ của làng mà xác định. Cổng làng không chỉ cho thấy sự uy nghiêm, bề thế của một ngôi làng, mà ở đó còn có cả những lời nhắn gửi của quê hương về công cha, nghĩa mẹ, đạo làm người.

Theo năm tháng, nhiều cổng làng được xem là di sản văn hóa, nghệ thuật phản ánh lý tưởng và chiều sâu của văn hóa cộng đồng (ảnh st)
Theo năm tháng, nhiều cổng làng được xem là di sản văn hóa, nghệ thuật phản ánh lý tưởng và chiều sâu của văn hóa cộng đồng (ảnh st)

Phía sau cổng làng là một nếp làng, một nếp sống cộng đồng đã được hình thành từ rất lâu. Trong những ngày lễ hội, cổng làng được treo cờ hoa, người dân trong làng lại cùng nhau rước trống hội về vinh quy bái tổ để nguyện cầu cho một năm mùa màng bội thu. Thuở xa xưa, cổng làng còn là nơi minh chứng cho bao mốc son lịch sử, nơi các sĩ tử dời chân về kinh ứng thi, nơi hò hẹn của bao đôi trai gái và cả những đám trẻ trâu. Và trong số những ngôi làng cổ còn tồn tại đến ngày nay, vẫn còn hai ngôi làng giữ được gần như nguyên vẹn chiếc cổng làng từ khi mới hình thành.

Phía sau cổng làng là một nếp làng, một nếp sống cộng đồng đã được hình thành từ rất lâu (ảnh st)
Phía sau cổng làng là một nếp làng, một nếp sống cộng đồng đã được hình thành từ rất lâu (ảnh st)

Với mỗi chúng ta, ai đã từng sinh ra ở làng đều có một tuổi thơ thật êm đềm, đẹp đẽ, bởi nếu ngôi nhà là nơi trở về sau mỗi ngày làm việc mệt mỏi thì làng quê lại là sự trở về sau những chuyến đi dài của cuộc đời. Về với làng, nghe tiếng bước chân mình rộn lên nền gạch dẫn vào làng hay chạm tay vào lớp đá ong xù xì nhưng mát rượi của chiếc cổng làng sẽ cảm nhận thấy có điều gì đó vẫn còn tiềm ẩn dưới lớp đá dày trầm mặc.

=> XEM THÊM: LỢN TRONG DI SẢN VĂN HOÁ VIỆT NAM

Để biết thêm nhiều thông tin hữu ích về những vấn đề liên quan đến văn hoá, đời sống, ẩm thực hoặc du lịch, mời độc giả ghé thăm Fanpage HỒ VĂN – VĂN MIẾU để hiểu rõ hơn!